Kết quả phân lập 90 mẫu bệnh phẩm thu thập được tại thực địa theo các nhóm tuổi khác nhau cho thấy: có 45 mẫu cho khuẩn lạc nghi ngờ; trong đó nhóm vịt từ 1 đến 3 tuần chiếm tỷ lệ cao nhất (khoảng 53,57%); tiếp đến là nhóm vịt từ 3-4 tuần tuổi chiếm khoảng 50,00%; vịt trên 4 tuần tuổi có tỷ lệ dương tính thâp nhất, chiếm khoảng 43,75%. Tuy nhiên, sự sai khác trên không có ý nghĩa thống kê (P >0,05). Theo Sandhu (2008) vịt từ 1 đến 8 tuần tuổi rất mẫn cảm với mầm bệnh; vịt dưới 5 tuần tuổi thường chết trong vòng 1 đến 2 tuần sau khi xuất hiện các triệu chứng lâm sàng.
Kỹ năng viết bài báo khoa học đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy hoạt động nghiên cứu khoa học và công bố kết quả nghiên cứu trên các tạp chí có uy tín. Để nâng cao kỹ năng này cho các cán bộ giảng viên, nhà khoa học Học viện, trong khuôn khổ dự án WB, ngày 30/3/2022, Ban Khoa học và Công nghệ tổ chức lớp tập huấn: “Viết khoa học trong nghiên cứu nông nghiệp - Scientific writing in agricultural research” do Tiến sĩ Sabine Stuerz, chuyên gia từ Đức giảng dạy. Buổi tập huấn được tổ chức trên nền tảng zoom với sự tham gia của hơn 50 cán bộ giảng viên, nghiên cứu viên Học viện Nông nghiệp Việt Nam.
Việt Nam là nơi có điều kiện khí hậu, đất đai phù hợp cho sinh trưởng, phát triển của nhiều loại cây thuốc quý. Thổ sâm cao ly (Talinum Paniculatum (Jacq.)) hay còn gọi là sâm mùng tơi, đông dương sâm, sâm thảo, giả nhân sâm, thổ nhân sâm… là một cây thuốc quý được biết đến từ lâu trong nhiều bài thuốc. Thổ sâm cao ly có rất nhiều tác dụng trong y học. Theo y học cổ truyền, có tác dụng bổ sung ích khí, nhuận phế sinh tân. Mát huyết, tiêu sưng, kiện tỳ, điều kinh, chữa các bệnh về gan thận, chống viêm, hạ cholesterol máu, thuốc bổ, lợi sữa... Những nghiên cứu gần đây trên thế giới chỉ ra rằng những hoạt chất trong thổ sâm có hoạt động estrogen, kháng khuẩn, kháng nấm và chống ung thư.
Hiện nay, tôm là một trong bốn sản phẩm xuất khẩu chủ lực của nước ta. Để nuôi tôm thành công, cần đảm bảo hàng loạt chỉ tiêu chất lượng nước như: nồng độ oxy hòa tan DO, độ pH, độ mặn, nhiệt độ, NH3, H2S, độ kiềm, nồng độ khoáng chất, mật độ tảo,…phải nằm trong ngưỡng cho phép. Chỉ cần một trong số những chỉ tiêu trên đây vượt quá khỏi ngưỡng thì tôm sẽ bị ảnh hưởng, chậm lớn, giảm sức đề kháng, nhiễm bệnh và chết. Do vậy, việc kiểm soát các chỉ tiêu chất lượng nước để kịp thời xử lý nhằm đảm bảo chúng nằm trong ngưỡng cho phép là hết sức quan trọng.
Nghiên cứu này thực hiện thiết kế, thử nghiệm một hệ thống tự động giám sát và cảnh báo một số thông số môi trường cho 03 ao nuôi tôm bằng phương pháp lấy mẫu từ các ao, đưa về một trạm đo duy nhất (hình 1).
Chiều ngày 12/10/2021, GS.TS. Nguyễn Thị Lan - Bí thư Đảng ủy, Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã chủ trì buổi tiếp và làm việc với bà Carolyn Turk, Giám đốc Quốc gia và đoàn chuyên gia cấp cao của Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam, gồm bà Steiffi Stallmeister - Giám đốc Điều hành World Bank, các chuyên gia cao cấp về Giáo dục, Kinh tế, Nông nghiệp cùng Chủ nhiệm và Đồng Chủ nhiệm Dự án “Nâng cao chất lượng giáo dục đại học” (SAHEP).Tham dự buổi làm việc còn có GS.TS. Trần Đức Viên – Chủ tịch Hội đồng Học viện, TS. Cao Đức Phát - Phó Chủ tịch Hội đồng Học viện, các thành viên Ban Giám đốc và trưởng các khoa, đơn vị liên quan.
Ngày 22 tháng 9 năm 2021, Ban Kinh tế Trung ương và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp cùng với Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Khoa Kinh tế và PTNT tổ chức buổi Tọa đàm trực tuyến nhằm thu thập ý kiến góp ý của các chuyên gia cho chuyên đề “Đổi mới thể chế, chính sách thúc đẩy nghiên cứu ứng dụng khoa học, công nghệ trong nông nghiệp” phục vụ tổng kết Nghị Quyết 26-NQ/TW về nông nghiệp, nông dân và nông thôn và xây dựng Nghị quyết Tam nông mới. Chủ trì buổi Tọa đàm là TS. Cao Đức Phát, nguyên Bộ trưởng Bộ NN&PTNT, nguyên Ủy viên Ban Chấp hành trung ương Đảng, nguyên Phó trưởng Ban Thường trực Ban Kinh tế Trung ương. Đại biểu tham gia có ông Nguyễn Văn Tiến, Vụ trưởng vụ NN&PTNT, Bộ NN&PTNT, GS.TS. Trần Đức Viên, Phụ trách Hội đồng Học viện, PGS.TS. Phạm Bảo Dương, Phó giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam cùng nhiều chuyên gia là các giáo sư, tiến sỹ, các nhà khoa học, và các cán bộ quản lý ở các trường đại học, viện nghiên cứu và cơ quan Bộ ngành trong lĩnh vực khoa học công nghệ và nông nghiệp, nông thôn.
Ngày 15/9/2021, nhóm nghiên cứu mạnh Ngôn ngữ học ứng dụng Tiếng Anh – khoa Sư phạm và ngoại ngữ, Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tổ chức seminar trực tuyến với chủ đề “Analysis of translation errors- Phân tích các lỗi biên dịch” do ThS. Trần Thanh Phương – Bộ môn Tiếng Anh chuyên nghiệp trình bày.
Theo Howatt (1984), dịch thuật luôn được xem là một thành tố quan trọng hàng đầu trong quá trình dạy ngôn ngữ. Biçer (2002) cũng nhấn mạnh sự cần thiết của dịch thuật đối với sinh viên ngôn ngữ và sinh viên chuyên ngành dịch. Trong chương trình đào tạo ngành Ngôn ngữ Anh tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam, môn Biên dịch được coi là một môn học cơ bản và bắt buộc cho sinh viên năm thứ 2 chuyên ngành ngôn ngữ Anh. Đối với sinh viên, môn biên dịch không mang tính chất đào tạo chuyên sâu về kĩ năng dịch thuật mà chủ yếu hướng đến việc củng cố kiến thức ngữ pháp và từ vựng, bên cạnh đó, cung cấp những kĩ năng cơ sở về dịch thuật thông qua các bài tập thực hành theo từng chủ đề. Sang năm thứ ba, sinh viên được bổ trợ và nâng cao kỹ năng qua môn dịch nữa là Biên dịch nâng cao. Đối với môn học này, sinh viên được học các chiến lược dịch với từng chủ điểm ngữ pháp và thực hành nhiều bài tập với các chiến lược dịch đó.
Bên cạnh sâu bệnh hại, cỏ dại là đối tượng phải được phòng trừ bởi thiệt hại do cỏ dại gây ra trong sản xuất nông nghiệp là rất lớn. Rất nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy, lượng lương thực mất đi từ cỏ dại gây ra hàng năm có thể nuôi sống 1 tỷ người. Để kiểm soát cỏ dại trong sản xuất nông nghiệp, người dân thường sử dụng biện pháp hoá học bởi hiệu quả cao và phòng trừ nhanh. Tuy nhiên, khi sử dụng thuốc trừ cỏ không tuân thủ theo nguyên tắc 4 đúng đã làm mất cân bằng hệ sinh thái, gây ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí, sản phẩm nông nghiệp không an toàn dẫn đến ảnh hưởng đến sức khoẻ con người. Vì vậy, để quản lý cỏ dại mà không cần dùng thuốc trừ cỏ trong sản xuất nông nghiệp, biện pháp canh tác đóng vai trò quan trọng trong sản xuất rau an toàn, rau hữu cơ.
Ngô rau hay còn gọi là ngô bao tử là loại rau tươi cao cấp, được thị trường Việt Nam và quốc tế rất ưa chuộng do bắp non có hàm lượng dinh dưỡng cao như protein, chất khoáng, vitamin A, vitamin C, sắt,…Ngô bao tử được coi là nguồn rau an toàn do được thu hoạch sớm, ít bị sâu bệnh phá hoại nhưng lại bị cỏ dại cạnh tranh các yếu tố sinh trưởng như ánh sáng, nước, dinh dưỡng và không gian sống đặc biệt ở giai đoạn đầu. Rất nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy, cỏ dại gây thiệt hại đến năng suất cây ngô là rất lớn, thậm chí làm mất năng suất ngô. Vì vậy, để hướng tới sản xuất nông nghiệp bền vững nói chung và sản xuất ngô rau an toàn nói riêng, việc xác định các biện pháp kỹ thuật canh tác vừa có tác dụng quản lý cỏ dại, vừa nâng cao năng suất, chất lượng cây ngô rau là rất cần thiết.
Ngày 25/8/2021, vừa qua nhóm nghiên cứu mạnh Ngôn ngữ học ứng dụng Tiếng Anh – khoa Sư phạm và Ngoại ngữ, Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tổ chức seminar với chủ đề “Một số lỗi thường gặp trong báo cáo khóa luận của sinh viên Ngôn ngữ Anh k62 và cách khắc phục” do thạc sỹ Phạm Hương Lan – Bộ môn Tiếng Anh cơ bản trình bày.
Khóa luận tốt nghiệp (KLTN) là bản báo cáo bằng văn bản về nghiên cứu được thực hiện nhằm hoàn thành một phần chương trình Cử nhân. Đây được coi như kì thi của sinh viên năm cuối trước khi tốt nghiệp nhận bằng. Không chỉ là nơi đúc kết lại các kỹ năng và kiến thức được học của sinh viên trong suốt quá trình ngồi trên ghế nhà trường, giúp các giảng viên đánh giá trình độ và khả năng tiếp thu của sinh viên một cách khách quan, chính xác, KLTN còn cho phép sinh viên tìm hiểu các lĩnh vực cụ thể hoặc vấn đề cụ thể một cách chi tiết, đồng thời tạo cơ hội cho sinh viên phát triển và vận dụng khả năng tư duy độc lập và kỹ năng ngôn ngữ của mình. Ngoài việc nhận biết năng lực của sinh viên để đưa ra quyết định cho điểm, xếp loại sinh viên một cách chính xác và công bằng thì yêu cầu sinh viên làm khóa luận tốt nghiệp còn có mục đích tạo điều kiện cho sinh viên có điều kiện và cơ hội nâng cao các khối kiến thức và kỹ năng đã được trang bị tại trường và phát huy sở trường của mình trong công trình nghiên cứu khoa học. Vì vậy việc tìm hiểu về các lỗi trong KLTN có ý nghĩa rất quan trọng trong công tác hướng dẫn và thực hiện KLTN, giúp giáo viên hướng dẫn đưa ra tư vấn hiệu quả hơn, đồng thời giúp sinh viên ý thức và tránh được các loại lỗi, từ đó nâng cao chất lượng KLTN.
Vững lý thuyết, giàu kỹ năng và nhiệt huyết là những tiêu chí chủ chốt trong các bản tin tuyển dụng. Trong sự vận động không ngừng của nền kinh tế, đòi hỏi của thị trường lao động, đặc biệt là thị trường nhân lực chất lượng cao, ngày càng cao. Theo phản ánh của các tổ chức, doanh nghiệp tuyển dụng, tỷ lệ sinh viên mới ra trường có khả năng làm việc được ngay mà không cần đào tạo lại rất hạn chế. Các nhà tuyển dụng mong đợi sinh viên tốt nghiệp không chỉ giỏi kiến thức chuyên môn mà cần có nhiệt huyết và kỹ năng vận dụng.
Ngô (Zea mays L.) có thể chia thành ba dạng trên cơ sở thành phần tinh bột trong nội nhũ là ngô thường (normal corn), ngô nếp (waxy corn) và ngô ngọt (sweet corn). Ngô có hạt rất nhiều màu từ trắng đến đen và có tương quan với hàm lượng của các hợp chất hóa học thực vật trong hạt gồm carotenoids, phenols, anthocyanin tạo màu ở vỏ hạt và lớp ơloron trong nội nhũ. Các hoạt chất này cũng có khả năng chống oxy hoá cao và có tiềm năng hoạt động kháng ung thư, ngăn chặn bệnh tim mạch, chống béo phì, bệnh tiểu đường và khả năng kháng viêm nhiễm. Một trong các dạng của ngô ngọt mang đột biến gen Shrunken2 (Sh2) mã hóa tiểu đơn vị lớn của enzyme ADP-glucose pyrophosphorylase, trong khi của ngô nếp là đột biến đơn gen waxy (Wx) mã hóa enzyme Granule-Bound Starch Synthase 1 cần thiết cho sự tổng hợp amylose. Những cây ngô mang đột biến sh2 được gọi là ngô siêu ngọt duy trì lượng đường cao, có tốc độ tích lũy tinh bột ổn định, thích hợp cho mục đích thu hoạch và vận chuyển trong khoảng thời gian dài.
Sáng 31/8, tại trụ sở Bộ Nông nghiệp và PTNT (NN&PTNT), Bộ trưởng Lê Minh Hoan đã chủ trì Diễn đàn Kết nối sản xuất và tiêu thụ nông sản. Tham gia diễn đàn trực tuyến có đầu cầu của 63 tỉnh, thành phố trong cả nước.
Gà Liên Minh là giống gà bản địa, mang nhiều đặc tính quý, thịt thơm ngon và gắn liền với sự phát triển kinh tế của người dân thôn Liên Minh, xã Trân Châu, huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng.
Gà Liên Minh có đặc trưng: da vàng, lớp mỡ dưới da mỏng, ngoại hình gà cao lớn, chân dài. Gà Liên Minh được coi là sản phẩm đặc trưng của đảo Cát Bà. Gà Liên Minh được xếp vào nhóm nguồn gen quí hiếm cần được bảo tồn. Năm 2013, Bộ Khoa học và Công nghệ cho phép Trung tâm ứng dụng tiến bộ Khoa học và Công nghệ Hải Phòng thực hiện nhiệm vụ “Khai thác và phát triển giống gà Liên Minh tại Hải Phòng” nhằm bảo tồn, khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn gen giống gà Liên Minh đặc sản (nhiệm vụ quỹ gen cấp nhà nước, mã số NVQG 2013-14). Bên cạnh đó, sở KH&CN Hải Phòng cũng đã hỗ trợ xã Trân Châu tiến hành hoàn thành thủ tục đăng ký nhãn hiệu tập thể cho sản phẩm gà Liên Minh mà Hội Nông dân xã sẽ làm chủ sở hữu nhãn hiệu này.
Trong những năm qua, công tác giảm nghèo được quan tâm triển khai thực hiện và có sự phối kết hợp của các tổ chức kinh tế - xã hội từ trung ương đến địa phương. Ở Việt Nam, kết quả giảm nghèo đã có những đóng góp tích cực cho phát triển kinh tế - xã hội chung của địa phương và quốc gia, đặc biệt là vùng dân tộc thiểu số. Việt Nam là một quốc gia đa dạng về tộc người và ngôn ngữ với 54 nhóm dân tộc cùng nhau sinh sống, xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước. Nước ta có 53 dân tộc thiểu số với 14,119 triệu người, hơn 3,6 triệu hộ, chiếm 14,7% dân số cả nước. Mặc dù đã có nhiều chính sách phát triển đặc thù nhưng tỷ lệ hộ nghèo và kết quả giảm nghèo ở vùng DTTS và miền núi vẫn chưa đạt được như mong đợi. Tỷ lệ hộ nghèo các dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ cao trong tổng số hộ nghèo của cả nước và có sự chênh lệch giữa các nhóm dân tộc thiểu số, và theo vùng sinh thái. Vì vậy việc phát triển kinh tế, xã hội ở các vùng DTTS và miền núi có ý nghĩa quyết định trong việc duy trì sự ổn định xã hội và đảm bảo toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền của Việt Nam. Nhận thức được vấn đề này, Đảng và Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách nhằm phát triển kinh tế, xã hội vùng DTTS và miền núi. Một số chính sách đặc thù cho phát triển kinh tế, xã hội cho vùng DTTS và miền núi có thể kể đến như Chương trình định canh định cư, Chương trình 135, Chương trình 30a. Đặc biệt, Chính phủ đã thực hiện Chương trình Mục tiêu Quốc gia giảm nghèo bền vững (giai đoạn 2012-2015 và giai đoạn 2016-2020) nhằm mục đích tăng thu nhập, giảm tỷ lệ nghèo và tăng khả năng tiếp cận với các dịch vụ cơ bản đối với nhóm DTTS.
Thổ sâm (Talinum paniculatum (Jacq.) Gaertn.) và Thổ sâm ba cạnh (Talinum triangulare (Jacq.) Willd.) đều thuộc họ Sâm mùng tơi (Talinaceae). Hai loài này thường bị nhầm lẫn khi thu hái hoặc gieo trồng và đều được gọi là Thổ sâm, Sâm đất, Thổ sâm Cao Ly. Thổ sâm ba cạnh mọc hoang hoặc trồng trong vườn nhà làm rau ăn, còn Thổ sâm thường được trồng làm thuốc. Thành phần hóa học chính trong rễ của cây Thổ sâm tương tự với Nhân sâm Trung Quốc và Hàn Quốc (Catthareeya và cs., 2013) vì vậy mà được mệnh danh là sâm cho người nghèo. Được sự tài trợ kinh phí thông qua đề tài cấp Học viện, nhóm tác giả đã tiến hành nghiên cứu đặc điểm hình thái và vi phẫu để phân biệt hai loài có họ hàng gần gũi dễ bị nhầm lẫn này.
Nghề nuôi tôm chân trắng đã trở thành một nghề đem lại nguồn thu nhập cho người dân ven biển khu vực miền Bắc, sau khi đối tượng này được cho phép nuôi ở Việt Nam. Theo quy hoạch của các tỉnh miền Bắc, diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng sẽ không tăng sau năm 2030, trong khi mục tiêu sản lượng vẫn tăng. Đây là thách thức lớn đối với khu vực miền Bắc, đòi hỏi sự chuyển đổi hình thức nuôi sang thâm canh và quy trình công nghệ nuôi mới, tăng cả số vụ nuôi lẫn năng suất nuôi một cách bền vững. Một trong những giải pháp đang được Khoa Thủy sản, Học viện Nông nghiệp Việt Nam nghiên cứu và thử nghiệm là ương nuôi tôm trong nhà (ISPS).
Tảo có vai trò vô cùng quan trọng trong chuỗi thức ăn, tạo dưỡng khí và là nhóm sinh vật chỉ thị của hệ sinh thái thuỷ vực. Việc tìm hiểu và nghiên cứu về vi tảo đóng vai trò quan trọng, có ý nghĩa to lớn trong việc nâng cao năng suất cá tôm của các loại hình vực nước và các hình thức nuôi từ quảng canh cho đến thâm canh. Nhằm góp phần tạo cơ sở dữ liệu về vi tảo, đánh giá vai trò của các loài, sự biến động thành phần loài chính yếu trong hệ thống ao nuôi của khoa Thủy sản, nhóm nghiên cứu chúng tôi đã thực hiện đề tài: “Nghiên cứu biến động thành phần loài tảo nước ngọt trong hệ ao nuôi trồng thủy sản tại khoa Thủy sản - Học viện Nông nghiệp Việt Nam”
Cá trê phi được nuôi rất phổ biến ở Việt Nam và trên thế giới. Cá trê phi là một trong những loài cá nước ngọt bản địa rất có giá trị kinh tế. Ở các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long, đây là một trong những đối tượng quan trọng và được nuôi phổ biến (Dương Nhựt Long, 2006). Ở miền bắc, trong những năm gần đây cá trê phi được nuôi nhiều ở các tỉnh như Hà Nội, Hải Dương, Bắc Ninh... Cá trê phi được nuôi bằng các mô hình quảng canh, bán thâm canh và thâm canh, trong đó sản lượng được cung cấp chủ yếu từ mô hình thâm canh. Trong mô hình nuôi thâm canh cá trê phi thì chi phí thức ăn chiếm khoảng 80% chi phí sản xuất.
Đề xuất phương án thương mại hóa sản phẩm khoa học công nghệ
Góp ý các dự thảo Quy định về hoạt động của Tạp chí khoa học Nông nghiệp Việt Nam
Góp ý các dự thảo quy định quản lý khoa học, công nghệ, sản phẩm KH&CN của Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Thông báo về việc tổ chức xét duyệt và nộp thuyết minh đề tài cấp cơ sở 2026
THÔNG BÁO Về việc nộp hồ sơ tham gia Giải thưởng Sinh viên nghiên cứu khoa học - Euréka lần thứ 27 năm 2025
Với công nghệ này, chỉ cần ngồi nhà lướt smartphone cũng giám sát, theo dõi đàn ong lấy mật cả vạn "quân"
Học viện Nông nghiệp Việt Nam ứng dụng cơ giới hóa đồng bộ các khâu trong sản xuất đậu tương
Nghiên cứu thiết kế và chế tạo máy làm đất bảo tồn cho cây trồng cạn
Giải pháp đẩy mạnh ứng dụng công nghệ sau thu hoạch
Ứng dụng kỹ thuật kiểm toán chất thải và đề xuất các biện pháp giảm thiểu chất thải trong chăn nuôi lợn
Sản phẩm KHCN của Học viện Nông nghiệp Việt Nam ‘hút’ khách tại Techfest 2025
Học viện Nông nghiệp Việt Nam tổ chức ngày hội trình diễn và thực nghiệm đào tạo nghề nông nghiệp tại Gia Lai
Đào tạo nghề phải gắn nhu cầu của người học và thị trường lao động
Hội thảo khoa học: “Bổ sung dinh dưỡng trong khẩu phần nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm chăn nuôi”
Hội thảo “Giới thiệu một số phương pháp phân tích dữ liệu và thống kê ứng dụng”
Học viện Nông nghiệp Việt Nam giành giải Nhì tại Giải thưởng Sinh viên Nghiên cứu Khoa học - Euréka lần thứ 22
Học viện đạt giải thưởng nhất toàn đoàn Hội nghị khoa học công nghệ tuổi trẻ các trường đại học và cao đẳng khối Nông - Lâm - Ngư - Thủy...
Thêm một nhà giáo được trao tặng danh hiệu Anh hùng Lao động: Cống hiến tâm lực cho giảng dạy, nghiên cứu khoa học
Mô hình 2 trong 1 cho trang trại chăn nuôi lợn, hướng đi bền vững trong định hướng vừa phát triển kinh tế và đảm bảo yếu tố an toàn môi trường
Tối ưu hóa bộ điều khiển PI trong điều khiển động cơ điện một chiều bằng FRIT
Lựa chọn giải pháp chiếu sáng hiệu quả, tiết kiệm cho phòng học trong Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Ứng dụng chế phẩm vi sinh vật quang dưỡng trong sản xuất rau an toàn trên địa bàn tỉnh Hải Dương
SẢN PHẨM KHOA HỌC CÔNG NGHỆ- KHOA THÚ Y (2)